Có những vị Thầy khai sáng, dù ta cố gắng cả đời, cũng không đền đáp nổi.
Tôi mong rằng sau 5 năm nữa, tôi sẽ chỉ chuyên tâm giảng dậy, để trả lại ân nghĩa của các vị Thầy, giống như vị Thầy Tây tôi đã viết 15 năm trước, nhân dịp Giỗ Thầy nên đăng lại và chia sẻ như sau:
THẦY BLUEMLE
Ông nổi tiếng là “ác nhất” tại phân khoa Kinh tế Đại học Fribourg. Trong giờ, sinh viên nói chuyện riêng hoặc có những hành động không chú ý là ông cầm phấn chọi thẳng vào mặt, rồi đuổi ra khỏi lớp. Có những sinh viên cứng đầu, tức giận đứng lên dọa: “Này ông Giáo sư mắc dịch kia, tôi sẽ kiện ông ra hội đồng Giáo sư, kiện ông lên đến trưởng khoa hoặc hiệu trưởng!” Ông sẽ thẳng thắn: “Mày đi kiện đi, tao đâu có muốn đứng đây để dạy môn này, nhất là trong đó có một thằng khốn như mày. Tao rất muốn được nghỉ hưu lâu rồi con ạ!” Và rồi, cũng có khi những lời ông nói đến tai của trưởng khoa hoặc hiệu trưởng, nhưng họ cũng chỉ bảo: “Trường này đến giờ còn danh tiếng tốt lành là nhờ những người như ông ấy đấy!”
Đó là một ông già không rõ tuổi, 60 cũng được, 70 cũng xứng, 80 cũng chẳng có ai thắc mắc sao ông trẻ thế, nhìn ông như một nhà khoa học bởi kiểu ăn mặc không mấy chải chuốt của một giáo sư kinh tế, gương mặt lạnh lùng, không biểu cảm, chỉ khi nào ông giận thì nhìn ông như con sư tử gầm gừ, cái mũi lớn màu đỏ sù xì là hậu quả của việc uống rượu quá nhiều, tay run run mỗi khi cầm phấn viết bảng, bàn tay trái ông thường đút vào túi quần hoặc túi áo vest để tránh người khác nhìn thấy sự run rẩy của nó. Tuy nhiên, bàn tay run run kia lại có tài chọi phấn cực chuẩn, đứa nào nói chuyện dù ở tận cuối giảng đường, ông cũng có thể liệng viên phấn vào mặt một cách chính xác.
Ông tên Bernard Ernst Bluemle, Giáo sư Tiến sĩ KH Kinh tế Quản trị và cha đẻ của ngành NPO (None Profit Organization) Management. Ông được chính phủ Thụy Sĩ phong giáo sư khi mới 42 tuổi. Những năm tháng tuổi trẻ của ông đều cống hiến cho khoa học và sự nghiệp, đến năm 48 tuổi ông mới lập gia đình với một thiếu phụ 30 tuổi. Sau khi lấy chồng, bà sanh cho ông 2 người con và ở nhà làm nội trợ, mặc dù bà cũng có bằng Tiến sĩ Hóa học. Họ hạnh phúc bên nhau được 12 năm. Ông vẫn ngày đêm tận tụy với các công trình nghiên cứu học thuật, viết sách, tư vấn và giảng dạy nên chẳng có thời gian bên cạnh bà. Thỉnh thoảng bà thích đi coi biểu diễn nhạc kịch, xem phim, ông thường nhờ cậu trợ tá đang viết luận án TS KH (Habilitation) đưa bà đi. Chẳng biết chuyện gì đã sảy ra, ngày ông mừng sinh nhật thứ 60 cũng là lúc vợ ông và cậu học trò cưng dắt nhau bỏ trốn khỏi TS. Ông bị sốc nặng, rồi lâm trọng bệnh vì uống rượu quá nhiều và buồn rầu quá độ. Thời gian ông nằm viện gần 2 năm, khi ông trở lại đại học không còn nhận ra ông nữa. Ông già đi một các kinh hoàng. Mặc dù xin nghỉ dạy, song Đại học cố thuyết phục ông trở về bục giảng. Từ đó, ông hay cáu gắt, chọi phấn và trở thành giáo sư ác nhất trường trong mắt sinh viên.
Tôi có nhân duyên rất lạ với ông,dù rằng từ ngày đầu tiên tham dự các bài giảng của ông, tôi đã luôn dè dặt tránh né. Nhưng lần ông dắt cả lớp đi thăm nhà máy sản xuất bia Cardinal tôi mới thực sự thấy con người khác của ông. Sau khi ban giám đốc nhà máy đưa mọi người đi tham quan từng nơi sản xuất, là lúc họ chiêu đãi chúng tôi sản phẩm của họ. Ai uống được bao nhiêu tùy hứng. Sau hàng chục vại bia, thầy trò ai cũng đã túy lúy say, câu chuyện cởi mở đến nỗi ông hỏi tôi: “Này Toàn, mày còn đứng vững được không đấy?” Tôi trả lời: “Chẳng những còn đứng vững mà còn đi lại được!” Ông gật đầu bảo: “Khá lắm, giờ mày đứng lên trước, cho tao mượn cái vai, rồi mình cùng đi tiểu, tao đứng lên không nổi nữa rồi!” Tôi cười và làm theo lời ông. Sau buổi tham quan ấy, ông Bluemle lại trở về với gương mặt lạnh lùng khó chịu như trước. Khi tôi học xong chương trình Thạc sĩ, ông có gọi điện chúc mừng và bảo bữa nào thầy trò mình đi uống một bữa ra trò.
Năm sau, tôi quyết định theo học chương trình Tiến sĩ tại đại học St. Gallen. Luật lệ của St. Gallen rất nghiêm, họ chỉ nhận nghiên cứu sinh, khi người đó đã được một trường đại học khác nhận làm nghiên cứu sinh rồi, nếu người đó không có thời gian học tập từ bậc Cử nhân và Thạc sĩ tại đại học St. Gallen. Để được nhận, tôi cần đại học Fribourg nhận làm nghiên cứu sinh, mà muốn đại học Fribourg nhận làm nghiên cứu sinh thì điểm học trung bình của chương trình Thạc sĩ phải đạt từ 3.5/4 (Summa cum laude) trở lên, hoặc được hội đồng giáo sư đặc cách. Tôi thiếu một chút để đạt đến mức điểm tốt nhất này, nên điều duy nhất có thể làm là được hội đồng giáo sư đặc cách phê chuẩn. Không còn cách nào khác, tôi đến gặp giáo sư Bluemle và nhờ ông giúp đỡ. Ông hướng dẫn cho tôi một đề tại nghiên cứu, nói tôi chuẩn bị 1 tháng, rồi ông triệu tập hội đồng giáo sư. 20 vị giáo sư có mặt trong buổi tôi thuyết trình về đề tài nghiên cứu của mình. Hàng mấy chục câu hỏi hóc búa đã dội xuống đầu tôi. Có lúc tôi những tưởng là cửa ải này hầu như vô vọng vì so với các kỳ thi trước đây, vụ điều trần trước hội đồng giáo sư về một đề tài khoa học là quá khó. Cuối cùng thì tôi cũng kết thúc phần trình bày của mình. Giáo sư đỡ đầu có lời nói cuối trước khi hội đồng giáo sư ra quyết định có phê duyệt hoặc bác đề tài đã được bảo vệ. Ông Bluemle phát biểu:
“Kính thưa các vị đồng liêu, kính thưa hội đồng giám khảo, kính thưa hội đồng phản biện, quý vị và tôi đã trả qua một cuộc công kích và phản biện cực kỳ gay gắt suốt ba tiếng đồng hồ vừa qua. Ông Trần đã rất vất vả và cố gắng để có thể trả lời tất cả những câu hỏi hết sức hàn lâm của quý vị. Tôi tin rằng quý vị đã hài lòng hoặc chưa hẳn hài lòng về những dòng suy nghĩ và nghị luận của ông Trần. Song trước khi quý vị biểu quyết, lấy danh nghĩa là giáo sư đỡ đầu tôi xin đặt ra cho quý vị một câu hỏi: Nếu quý vị đặt bản thân mình vào vị trí của thí sinh, có nghĩa là người được sinh ra và lớn lên trong một quốc gia chiến tranh liên miên, học hành bị gián đoạn vì những nguyên nhân khách quan và đặc biệt ở tuổi 20 mới bắt đầu học tiếng mà quý vị đã nói từ khi lên 1. Quý vị hãy nhìn thẳng vào đất nước chúng ta, chỉ có 6% dân số học đến tú tài, chỉ có 4% dân số ghi danh học đại học dù rằng những sinh viên ấy không hề vất vả vừa học hành vừa làm việc kiếm sống. Thì hôm nay đây, quý vị đã thấy một sinh viên nước ngoài, đến đây ngoại trừ khối óc và đôi bàn tay, không có tài sản gì khác. Anh ta đã dùng hết nghị lực của mình để theo đuổi một giấc mơ, mà tất cả chúng ta ngồi đây đều đã được thực hiện. Chúng ta có mọi điều kiện để thực hiện, còn anh ta thì đang đợi chúng ta tạo cho một điều kiện. Bài thuyết trình cùng phản biện của anh ta, theo đánh giá của tôi đạt loại khá, nhưng mỗi người mỗi ý. Tôi trông mong vào sự công bằng với lương tâm của quý vị.”
Tôi nghe lời phát biểu của ông mà trong lòng cảm động đến rưng rưng nước mắt.
Kết quả của hội đồng giáo sư đồng ý cho phép tôi có đủ mọi quyền và điều kiện để trở thành nghiên cứu sinh tại đại học Fribourg với sự đồng ý của cả 20 vị.
Sau 8 năm, kể từ ngày tôi bắt đầu theo học chương trình Tiến sĩ, tôi gọi cho Thầy tôi báo với ông là tôi đã bảo vệ xong luận án. Ông bảo tôi: “Làm gì mà lâu thế? Chương trình có 5 năm mà mày làm đến 8 năm!?” Tôi thưa ông là tôi dốt và cũng quá bận rộn mưu sinh. Ông cười nói câu tục ngữ tiếng Đức “Ende gut alles gut” (Cuối cùng thành công, tất cả thành công). Ông bảo tôi ghé qua nhà ông chơi và mang theo một cuốn luận án để tặng ông. Tôi đến nhà ông vào buổi chiều mùa Thu, ông ngồi trong phòng khách, tay cầm ba toong và bảo tôi: “Con hãy đọc cho thầy nghe phần mở đầu và phần kết luận của luận án đi!” Tôi ngạc nhiên thưa: “Sao Thầy không từ từ rồi đọc, con muốn kể cho Thầy nghe những chuyện trong cuộc sống của con trong suốt tám năm qua!” Ông bảo: “Rồi hãy kể, đọc cho ta nghe. Ta bị tiểu đường và từ hơn năm nay ta bị mù rồi, không còn có thể tự đọc được nữa.” Tôi cực kỳ thương cảm, đọc cho ông nghe hai phần ông yêu cầu. Ông cũng bảo tôi nói tóm lược những gì tôi nghiên cứu trong đề tài ở các phần khác. Tôi cũng kể tóm tắt cho ông nghe quãng đời của tôi suốt những năm qua. Ông hài lòng. Cuối cùng ông dặn: “Cần nỗ lực để đạt đến mục đích tối hậu, song không bao giờ quên cần có một trái tim trong sáng.”
Một năm sau, tôi nghe tin Thầy qua đời. Tôi không về đưa tiễn Thầy được, song cả ngày hôm ấy tôi rất buồn vì vừa mất đi vị Thầy đã cho tôi một cơ hội lớn trong đời. Tôi lắng lòng cầu nguyện cho ông và cũng hứa với ông rằng những gì ông cho tôi, tôi sẽ nhân danh ông để trao lại cho những thế hệ đàn em sau này. Thầy Tây hay Thầy Ta cũng là Thầy, điều đáng nói là họ có xứng đáng làm Thầy hay không mà thôi!
Tác giả Trần Toàn