Lật lại những trang sử Việt Nam, chúng có rất nhiều nhân vật lẫy lừng vang danh đất Việt.

Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, từng làm thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam vào năm 1945. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo...

Trần Trọng Kim là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước (cha ông tham gia phong trào Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo). Ông là người hiếu học, sớm tiếp cận với cả giáo dục Pháp-Việt và sau đó sang Pháp du học tại nhiều trường danh tiếng về thương mại và sư phạm (Lyon, Melun).

Trước khi bước lên vũ đài chính trị, Trần Trọng Kim được biết đến là một nhà giáo dục, một nhà biên khảo mẫu mực. Trong bối cảnh nền văn hóa Việt Nam đang chuyển mình từ Hán học sang Tây học, ông đóng vai trò như một chiếc cầu nối hiệu quả. Những tác phẩm của ông không chỉ là sách giáo khoa mà đã trở thành di sản văn hóa:

  • Việt Nam Sử Lược: Một trong cuốn thông sử đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, hệ thống lại toàn bộ lịch sử dân tộc một cách khoa học và dễ hiểu.
  • Nho giáo: Bộ sách đồ sộ phân tích sâu sắc về tư tưởng Khổng Mạnh tại Việt Nam.
  • Phật giáo: Một công trình khảo cứu công phu giúp người đọc tiếp cận triết lý nhà Phật.

Suốt những năm tháng làm thanh tra học chính, ông luôn đau đáu việc giữ gìn hồn cốt dân tộc trong một nền giáo dục đang bị thực dân hóa.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lịch sử Đông Dương chuyển hướng đột ngột. Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy hiệp ước Patơnốt ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Vua Bảo Đại liền giải tán Hội đồng cơ mật gồm Thượng thư sáu bộ, tuyên bố từ nay sẽ tự mình cầm quyền nhưng bên cạnh nhà vua là viên Đại sứ Nhật ở Đông Dương Yokoyama làm “Tối cao cố vấn”.

Ngày 30-3-1945, Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón từ Băng Cốc (Thái Lan) về Sài Gòn. Khoảng 5 tháng 04 năm 1945, Trần Trọng Kim đến Huế. Sau khi được yết kiến Bảo Đại và gặp Trần Đình Nam, Trần Trọng Kim cũng tán thành giải pháp lập nội các do Ngô Đình Diệm đứng đầu nên một bức điện thứ 2 triệu tập Ngô Đình Diệm được Tối cao cố vấn Yokoyama nhận chuyển đi. Nhưng Ngô Đình Diệm không ra Huế. Bảo Đại triệu Trần Trọng Kim vào tiếp kiến lần thứ hai.

Tháng 17/4/1945, Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Đây là một nội các rất đặc biệt vì quy tụ những trí thức danh tiếng nhất thời bấy giờ như: Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh... Họ tham chính không vì quyền lực, mà vì mong muốn làm được điều gì đó cho quốc gia trong lúc giao thời. Tháng 6/1945, chính phủ chính thức đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam, chọn bài Đăng đàn cung làm quốc thiều và cờ quẻ Ly làm quốc kỳ.

Nội các Trần Trọng Kim

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGHIENCUULICHSU

Nội các Đế quốc Việt Nam của học giả Trần Trọng Kim (1883-1953) tồn tại từ ngày 17/04 đến 25/08 năm 1945 gồm toàn các trí thức: một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư. Đó là các ông Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Trọng Khánh, Vũ Ngọc Anh, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam, Vũ Văn Hiền, Phan Anh và Nguyễn Hữu Thi.

Chỉ trong bốn tháng làm việc với chủ quyền và độc lập rất hạn chế, Chính phủ Trần Trọng Kim đã tạo biểu tượng, đặt nền tảng về pháp lý và giáo dục cho Việt Nam nhiều năm sau.

1. Lập lại quốc hiệu Việt Nam

Khi Nhật Bản trao trả 'độc lập', vua Bảo Đại và chính phủ đã nhanh chóng tuyên bố quốc hiệu là VIỆT NAM. Đây là cái tên mà hoàng đế Gia Long đã từng lập quốc hiệu nhưng không được Thanh triều công nhận. Tên nước Đại Nam do Vua Minh Mạng đặt cũng bị Pháp xóa để lập ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trong Liên bang Đông Dương. Tên này cũng được Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu đặt cho các đảng phục quốc, cách mạng. Riêng phái cộng sản chưa dùng tên này cho ba đảng đầu tiên của họ mà từ 1930 đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Quốc hiệu Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố với thế giới sau đã thành tên nước cho cả hai chế độ ở Nam và Bắc đến 1975 và ngày nay.

Đế quốc Việt Nam năm Bảo Đại 20 chọn cờ vàng ba sọc đỏ với một sọc đứt quãng theo quẻ Ly của Kinh Dịch làm quốc kỳ. Nhà Nho học Trần Trọng Kim dẫn sử để nói đó là màu cờ vàng của Triệu Thị Trinh khi khởi nghĩa chống quân Ngô.

2. Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục

Dù có một số nỗ lực dùng tiếng Nhật thời Nhật Bản chiếm Đông Dương, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Việt và một số văn bản Hán ngữ đến năm 1945.

Hà Nội

NGUỒN HÌNH ẢNH, CULTURE CLUB/GETTY IMAGES

Hình ảnh Hà Nội thời Pháp có phố mang tên nhà thám hiểm thực dân Jean Dupuis ở lối vào Ô Quan Chưởng

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, đóng vai trò chính trong việc ra quyết định dùng tiếng Việt hệ quốc ngữ thay tiếng Pháp.

Ông soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt và đưa bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Đây là cơ sở cho chương trình trung học trên toàn Việt Nam ở cả hai miền dưới hai chế độ đối nghịch. Các sách giáo khoa chịu ảnh hưởng của giai đoạn Hoàng Xuân Hãn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu từ 1936 đến 1947. Đó là thời gian ông xuất bản tiểu sử Lý Thường Kiệt và La Sơn phu tử, soạn từ vựng danh từ khoa học Toán Lý Hóa cho người Việt Nam.

3. Đòi lại miền Nam để thống nhất lãnh thổ

Theo sử gia Lê Mạnh Hùng, ngày 16/06, Vua Bảo Đại ra tuyên bố thống nhất tương lai của ba kỳ về một.

Chính phủ Trần Trọng Kim cũng ngay lập tức đàm phán với Nhật để đòi lại ba thành phố trực trị của người Pháp trước đó là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.

Cuộc gặp của Trần Trọng Kim với Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật tại Đông Dương trong tháng 7 đã đem lại kết quả quan trọng.

Quân đội Nhật Hoàng vào Hà Nội năm 1941

NGUỒN HÌNH ẢNH, POPPERFOTO/GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh, Quân Nhật đi xe đạp qua cầu Long Biên vào Hà Nội tháng 9/1941

Tân chính phủ Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo ba đô thị lớn: Trần Văn Lai làm Thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh làm Thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm Thị trưởng Tourane (Đà Nẵng).

Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai đã cho đổi tên phố từ tên Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc Việt Nam.

Sang tháng 8/1945, Nhật Bản đồng ý trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim và ông Nguyễn Văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ. Không có quân đội riêng, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ dựa vào tình thế và quyết tâm của các trí thức để đàm phán với Nhật Bản. Nhưng về mặt chính trị, tâm lý dân tộc và hành chính, nhận lại Nam Kỳ là thành tựu có tính biểu tượng quan trọng. Hành động này không chỉ xóa nỗi nhục bại trận - cuộc chiến mất nước của Đại Nam bắt đầu từ Nam Kỳ - mà còn duy trì giấc mơ thống nhất ba miền mà các bậc tiền bối nuôi dưỡng.

4. Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập

Dù không có thực quyền và không được các đại cường công nhận - bởi là chính quyền có quan hệ mật thiết với Đế quốc Nhật - Trần Trọng Kim, đã lập ra Hội đồng dự thảo Hiến pháp.

Hồ Chí Minh và công dân Vĩnh Thụy

NGUỒN HÌNH ẢNH, NGHIENCUULICHSU

Chụp lại hình ảnh, Sau khi trao quyền lại cho chính phủ Việt Minh, cựu hoàng Bảo Đại khi đó ngoài 30 tuổi, giữ chức Cố vấn tối cao một thời gian với cái tên công dân Vĩnh Thụy

Hội đồng gồm các trí thức, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.

Hiến pháp công nhận tự do lập nghiệp đoàn, các hội nghề nghiệp. Tổng hội Công chức ra đời để làm lực lượng chính trị ủng hộ cho tân chính phủ. Các hội đoàn thanh niên sau là cơ sở cho các phong trào vũ trang chống Pháp của cả phe cộng sản và cộng hòa.

Trong Tuyên chiếu 03/05/1945, vua Bảo Đại đã viết: "Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp. Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân."

Đặc biệt, theo lời nhà vua, "Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả." Tuy nhiên, hoạt động lập pháp này đã không hoàn tất được vì các công việc cấp bách hơn như cứu đói cho miền Bắc.

Theo sử gia Trần Gia Phụng, chính phủ Trần Trọng Kim tuy được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, đã hoạt động độc lập và không lệ thuộc vào người Nhật.

5. Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng

Các hạn chế của chính phủ Trần Trọng Kim đã được nói đến nhiều, gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản. Nội các này đã tan rã trong làn sóng cách mạng nổi lên và mục tiêu giành giật vùng ảnh hưởng của các đại cường. Ý thức được những vấn đề đó, các trí thức trong chính phủ này đã chọn con đường trao lại quyền lực không đổ máu cho một chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.

Được biết vua Bảo Đại đã không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08.

Huế

NGUỒN HÌNH ẢNH, THIERRY ORBAN/GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh, Nội các Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam rút lui để cũng khép lại thời kỳ quân chủ để chuyển sang cách mạng và cộng hòa

Tại Hà Nội, tuần hành của Tổng hội Công chức ngày 19/08 bị 'cướp cờ' biến thành biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo. Dù vậy, Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh bắn vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp.

Là chính phủ chuyên viên đầu tiên của Việt Nam thời hiện đại, nội các Trần Trọng Kim đã rút lui trong hòa bình để trao quyền lại cho thế hệ các chính khách và nhà làm cách mạng chuyên nghiệp. Theo chính lời ông Trần Trọng Kim kể lại, quốc gia Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào giai đoạn tàn sát lẫn nhau giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng trong các năm 1945-46. Về thể chế, Đế quốc Việt Nam rút lui đã khép lại thời kỳ quân chủ để chuyển sang cộng hòa với các tiến bộ và hệ lụy như đã biết về sau. (bbc tiếng Việt)

-----------------------------

  • Thống nhất lãnh đạo: Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) được tuyên bố thống nhất.
  • Cải cách giáo dục: Đưa tiếng Việt vào làm ngôn ngữ chính trong giáo dục và các văn bản hành chính (thay cho tiếng Pháp).
  • Hành chính: Thay thế các công chức người Pháp bằng người Việt.

Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng Hà Nội đã cho đổi tên phố từ tên người Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc.

Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội nên tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản. Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội để thực hiện công tác trị an, bảo vệ. Tuy nhiên khi Cách mạng tháng tám nổ ra, lực lượng Thanh niên Tiền tuyến đã rời bỏ hàng ngũ Đế quốc Việt Nam để quay sang ủng hộ Việt Minh. Trường Thanh niên tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này. Nhiều thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim đã tham gia trong Chính phủ Việt Nam DCCH và có đóng góp to lớn cho đất nước như: Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Đặng Thai Mai, Nguyễn Xiển...

Dù có tâm huyết, nhưng Chính phủ Trần Trọng Kim rơi vào một tình thế ngặt nghèo:

  • Về đối ngoại: Bị coi là "bù nhìn" của phát xít Nhật. Chính phủ không có thực quyền về quân sự và tài chính.
  • Về đối nội: Phải đối mặt với nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) mà không có đủ phương tiện để cứu vãn.
  • Về chính trị: Họ kẹt giữa sức ép của Nhật và làn sóng cách mạng mạnh mẽ của Việt Minh.

Khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào tháng 8/1945, chính phủ Trần Trọng Kim tan rã. Ông từ chức, lặng lẽ rời khỏi chính trường để nhường chỗ cho dòng thác Cách mạng tháng Tám.

Sau khi rời chính trường, Trần Trọng Kim sống những năm tháng cuối đời trong sự im lặng. Ông sang Hồng Kông, Thái Lan rồi cuối cùng quay về Việt Nam và mất tại Đà Lạt vào năm 1953.

Cuốn hồi ký "Một cơn gió bụi" của ông là một cái nhìn đau xót, tự sự về giai đoạn lịch sử đầy biến động mà ông đã trải qua. Ông tự coi mình như một người học trò bị đẩy vào một cuộc chơi chính trị quá tầm tay.

Lịch sử nhìn nhận Trần Trọng Kim là một học giả lớn có công lớn với văn hóa dân tộc. Về mặt chính trị, dù còn nhiều tranh luận về vai trò của chính phủ 1945, nhưng không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước và nhân cách của một trí thức luôn mong muốn xây dựng một nền độc lập cho Việt Nam theo cách ôn hòa nhất.